TẬP TRUNG VÀO BẤT ĐỘNG SẢN CẢNG BIỂN – KHU KINH TẾ – KHU CÔNG NGHIỆP

KHU KINH TẾ

Mục tiêu đến năm 2030:

Phát triển hệ thống cảng biển đồng bộ, hiện đại, dịch vụ chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng – an ninh, an toàn hàng hải và bảo vệ môi trường, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, góp phần đưa nước ta cơ bản trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030 với một số chỉ tiêu cụ thể như sau:

– Về năng lực: đáp ứng nhu cầu xuất nhập khẩu hàng hóa, giao thương giữa các vùng, miền trong cả nước và hàng trung chuyển, quá cảnh cho các nước trong khu vực cũng như nhu cầu vận tải hành khách nội địa và quốc tế. Hệ thống cảng biển đáp ứng thông qua lượng hàng hóa từ 1.140 đến 1.423 triệu tấn (trong đó hàng container từ 38 đến 47 triệu TEU); hành khách từ 10,1 đến 10,3 triệu lượt khách.

– Về kết cấu hạ tầng: ưu tiên phát triển các khu bến cảng cửa ngõ quốc tế Lạch Huyện (Hải Phòng), Cái Mép (Bà Rịa – Vũng Tàu). Nghiên cứu cơ chế chính sách phù hợp phát triển từng bước cảng trung chuyển quốc tế tại Vân Phong (Khánh Hòa) để khai thác tiềm năng về điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý. Quy hoạch định hướng phát triển bến cảng Trần Đề (Sóc Trăng) phục vụ đồng bằng sông Cửu Long để có thể triển khai đầu tư khi có đủ điều kiện; các cảng biển quy mô lớn phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của cả nước hoặc liên vùng; các bến cảng khách quốc tế gắn với các vùng động lực phát triển du lịch; các bến cảng quy mô lớn phục vụ các khu kinh tế, khu công nghiệp; các bến cảng tại các huyện đảo phục vụ phát triển kinh tế – xã hội gắn với quốc phòng – an ninh và chủ quyền biển đảo.

Tầm nhìn đến năm 2050:

– Phát triển hệ thống cảng biển đồng bộ, hiện đại ngang tầm với khu vực và thế giới, đáp ứng các tiêu chí cảng xanh; đáp ứng đầy đủ, hiệu quả nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội đất nước, là trụ cột chính có vai trò động lực, dẫn dắt, phát triển thành công kinh tế hàng hải theo Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22 tháng 10 năm 2018 của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, góp phần đưa nước ta trở thành quốc gia biển mạnh và nước phát triển, thu nhập cao.

Khu kinh tế là khu vực có ranh giới xác định, gồm nhiều khu chức năng, mục đích chủ yếu là để hình thành khu vực kinh tế động lực, trên cơ sở phát triển đa ngành thúc đẩy sự phát triển chung, nhất là thúc đẩy sự phát triển của các vùng nghèo trên những vùng biên giới, ven biển của Việt Nam, tạo tiền đề thu hút mạnh mẽ các nguồn vốn đầu tư, nhất là vốn đầu tư nước ngoài. Hiện nay, Việt Nam có khoảng 47 khu kinh tế.

Các KKT ven biển (KKTVB) được hình thành ở khu vực ven biển và địa bàn lân cận khu vực ven biển; là mô hình phát triển có tính đột phá cho phát triển kinh tế vùng, lãnh thổ có điều kiện thuận lợi khai thác lợi thế về điều kiện tự nhiên, vị trí địa kinh tế và chính trị để phát triển kinh tế , hội nhập kinh tế quốc tế huy động tối đa nguồn nội lực, tìm kiếm và áp dụng những thể chế và chính sách kinh tế mới để chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực; kết hợp phát triển kinh tế với giữ vững an ninh, quốc phòng. Hiện tại, cả nước có 19 KKTVB trong đó khu vực Bắc Bộ có 5 khu, ven biển miền Trung có 11 khu, khu vực Tây Nam Bộ có 3 khu với tổng diện tích mặt đất và mặt nước khoảng 853 nghìn ha.

Các KKT cửa khẩu (KKTCK) được hình thành ở khu vực biên giới đất liền và địa bàn lân cận khu vực biên giới đất liền có cửa khẩu quốc tế hoặc cửa khẩu chính để phát huy lợi thế về quan hệ kinh tế – thương mại cửa khẩu biên giới, thu hút các kênh hàng hóa, đầu tư, thương mại, dịch vụ và du lịch từ các nơi trong cả nước từ nước ngoài vào nội địa thông qua cơ chế chính sách ưu đãi tại các khu kinh tế cửa khẩu. Đã có 21 tỉnh trên tổng số 25 tỉnh có biên giới đất liền được Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập KKT cửa khẩu (KKTCK) (trừ các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Đăk Lăk và Đăk Nông). Tính theo số lượng, cả nước có 28 KKTCK với tổng diện tích hơn 600 nghìn ha. Trong đó, giáp biên giới với Trung Quốc có 11 khu (thuộc 6 tỉnh); giáp biên giới với Lào có 10 khu (thuộc 8 tỉnh); giáp biên giới với Campuchia có 7 khu (thuộc 7 tỉnh). KKTCK quốc tế Bờ Y tỉnh Kon Tum vừa giáp Lào, vừa giáp Campuchia.

Lợi ích của đặc khu kinh tế:

Ở Việt Nam, một số chuyên gia kinh tế đặt dấu hỏi, liệu lợi ích mà các khu hành chính – kinh tế đặc biệt (đặc khu) mang lại có tương ứng với chi phí bỏ ra hay không? Song ở chiều ngược lại, rất nhiều nhà đầu tư đánh giá cao và cho rằng, việc xây dựng 3 đặc khu sẽ tạo ra sức hấp dẫn mới thu hút nguồn vốn nước ngoài. Những tính toán cụ thể cũng cho thấy chi phí bỏ ra cho đặc khu là hoàn toàn xứng đáng và đây sẽ là khoản đầu tư có lợi.

Bởi:

– Các nhà đầu tư, doanh nghiệp được miễn thuế, nguồn lao động dồi dào cộng thêm chính sách mềm dẻo trong vận chuyển tạo điều kiện thuận lợi để phát triển. Từ đó, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

– Có thể nói, khu kinh tế tự do được nằm ở vị trí “vàng” với 3 gần: gần các cảng biển, gần cảng hàng không, gần các tuyến đường huyết mạch thuận lợi cho giao thương, việc vận chuyển hàng hóa trở nên nhanh chóng hơn bao giờ hết.

– Các dịch vụ y tế, giáo dục, giải trí được nâng cao đáp ứng đúng nhu cầu của sự phát triển, hiện đại và tân tiến nhất.

– Ngoài ra, đặc khu kinh tế xuất hiện làm giảm bớt chi phí xuất nhập khẩu, tăng tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường quốc tế.

https://www.youtube.com/watch?v=jnNIdGLZwEY&t=124s

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *